Chuyển đến nội dung chính
Wikikaiju Logo
WIKIKAIJUEncyclopedia
Cơ sở dữ liệu sinh vật khổng lồ

Danh Mục Kaiju

Tra cứu thông số, nguồn gốc và hồ sơ Kaiju qua các vũ trụ điện ảnh.

Tổng số: 161 Kaiju
Showa Era1962

Maguma (Showa)

Maguma kỷ nguyên Showa (南極怪獣 マグマ, Nankyoku Kaijū Maguma — Đại Quái Thú Nam Cực / Voi Biển Tiền Sử) là đại quái thú động vật có vú bán thủy sinh khổng lồ xuất hiện trong tác phẩm điện ảnh khoa học viễn tưởng kinh điển *Gorath* (1962 — 妖星ゴラス, *Yōsei Gorasu*) của đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda và bậc thầy kỹ xảo Eiji Tsuburaya. Vốn là một loài voi biển bò sát-thú tiền sử (*prehistoric pinniped / giant odobenid*) ngủ đông hàng triệu năm sâu dưới lớp băng vĩnh cửu của lục địa Nam Cực, Maguma bất ngờ bị đánh thức bởi nhiệt lượng khổng lồ và rung chấn địa chất từ các dàn động cơ tên lửa đẩy nguyên tử do Liên Hợp Quốc xây dựng nhằm làm chệch quỹ đạo Trái Đất để tránh va chạm với thiên thể lang thang Gorath. Với chiều dài 50 mét, nặng 25.000 tấn và được vũ trang bằng cặp ngà ngà voi khổng lồ sắc nhọn, Maguma đã nổi cơn thịnh nộ, tiến công phá hủy các đường ống dẫn nhiên liệu và trạm quan sát căn cứ Nam Cực. Trước mối nguy làm gián đoạn kế hoạch cứu rỗi Trái Đất, Lực lượng Không gian Liên Hợp Quốc đã điều động phi cơ phản lực cất hạ cánh thẳng đứng trang bị pháo tia laser nguyên tử tấn công kích hoạt sạt lở núi băng chôn vùi và tiêu diệt quái thú.

50 m25,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1962

Oodako (Showa)

Oodako kỷ nguyên Showa (大タコ, Ōdako — Đại Bạch Tuộc Khổng Lồ / Thần Hải Thú Đảo Faro) là một trong những quái thú nhuyễn thể thủy sinh biểu tượng và xuất hiện nhiều lần bậc nhất trong thời kỳ Showa của hãng Toho. Ra mắt lần đầu trong siêu phẩm kỷ niệm 30 năm thành lập Toho *King Kong vs. Godzilla* (1962 — キングコング対ゴジラ) của đạo diễn Ishirō Honda và giám đốc hiệu ứng Eiji Tsuburaya, Oodako là một sinh vật bạch tuộc Thái Bình Dương khổng lồ dài 30 mét, nặng 600 tấn sinh sống tại các rạn san hô nước sâu bao quanh đảo Faro huyền bí. Vào ban đêm, quái thú trườn lên bờ biển xâm nhập ngôi làng của người bản địa nhằm tìm kiếm và cướp đoạt những chum nước ép quả mọng đỏ Soma thần thánh. Trận tấn công của Oodako đã đánh thức thần hộ mệnh King Kong, dẫn đến trận đọ sức vật tay quái thú kinh điển khi Kong tóm lấy các xúc tu và quăng quái thú trở lại đại dương. Nhờ hiệu ứng thị giác chân thực từ việc sử dụng các cá thể bạch tuộc sống thật quay trên sa bàn thu nhỏ do đích thân "Thần Kỹ Xảo" Eiji Tsuburaya dàn dựng, Oodako đã trở thành nhân vật quen thuộc được tái xuất hiện trong *Frankenstein vs. Baragon* (*Frankenstein Conquers the World*, 1965 bản kết thúc thay thế), *The War of the Gargantuas* (1966) khi tấn công tàu hàng trên biển đêm, và loạt phim truyền hình *Ultra Q* dưới danh xưng Sudar.

20 m600 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1963

Manda (Showa 1963–1968)

Manda (Showa)

Manda kỷ nguyên Showa (海底竜 マンダ, Kaiteiryū Manda — Rồng Biển Sâu) là hiện thân tráng lệ của loài rồng biển phương Đông thần thoại trong vũ trụ quái thú Toho. Ra mắt lần đầu trong tác phẩm khoa học viễn tưởng - phiêu lưu hải dương kinh điển *Atragon* (1963 — *Kaitei Gunkan* / Chiến Hạm Đáy Biển) của đạo diễn Ishirō Honda và kỹ xảo Eiji Tsuburaya, Manda là vị thần hộ mệnh tối cao của Đế chế ngầm Mu (Mu Empire) hùng mạnh dưới đáy đại dương. Với thân hình rắn rồng khổng lồ dài tới 150 mét, nặng 30.000 tấn, phủ lớp vảy xanh lục lam óng ánh cùng đôi gạc sừng hươu quý phái và bờm râu đỏ rực, Manda thống trị các dòng hải lưu ngầm với tốc độ bơi 60 hải lý/giờ. Vũ khí đáng sợ nhất của nó là đòn quấn xiết toàn thân (Crushing Constriction), tạo ra lực ép hàng chục nghìn tấn đủ sức bóp nát vỏ thép kiên cố của siêu chiến hạm ngầm Gotengo. Trở lại trong kiệt tác *Destroy All Monsters* (1968), Manda sinh sống tại khu bảo tồn Đảo Quái Thú (Monsterland), từng bị người Kilaak thao túng phá hủy hệ thống đường sắt trên cao tại Tokyo trước khi cùng liên minh quái thú Trái Đất đón chào hòa bình vĩnh cửu.

30,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1963

Matango (Showa)

Matango kỷ nguyên Showa (マタンゴ, Matango — Quái Nhân Nấm / The Mushroom People) là một trong những thực thể quái vật kinh dị sinh học, tâm lý ám ảnh và độc đáo bậc nhất trong lịch sử điện ảnh Toho, xuất hiện trong kiệt tác kinh dị huyền bí *Matango* (1963 — マタンゴ / tựa quốc tế: *Attack of the Mushroom People*) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda chỉ đạo cùng bậc thầy kỹ xảo Eiji Tsuburaya. Lấy cảm hứng từ truyện ngắn *The Voice in the Night* (1907) của William Hope Hodgson, bộ phim đưa thể loại quái thú tokusatsu bước vào lãnh địa kinh dị tâm lý và suy đồi đạo đức con người. Khác với các đại quái thú khổng lồ tàn phá thành phố, Matango là một loài nấm ký sinh biến dị cực độc sinh sôi trên một hòn đảo nhiệt đới hoang vu quanh năm sương mù bao phủ ở Nam Thái Bình Dương, bị nhiễm xạ nặng nề bởi các vụ thử bom nguyên tử ngoài khơi. Khi một nhóm du khách thượng lưu Tokyo bị đắm tàu trôi dạt vào đảo, cơn đói khát cùng sự suy đồi nhân tính đã đẩy họ đến việc vi phạm điều cấm kỵ: ăn những cây nấm Matango kỳ dị để sinh tồn. Loài nấm mang vị ngon đê mê và chất gây ảo giác hưng phấn tột độ này dần dần xâm chiếm hệ thần kinh, biến đổi từng nạn nhân thành những quái nhân nấm (Kinoko Ningen) dị dạng, mất hết lý trí và hòa nhập vào mạng lưới sinh khối nấm ma quái vĩnh hằng của hòn đảo.

2 m100 kg
Chi tiết
Showa Era1963

Gotengo (Showa)

Siêu chiến hạm cơ giáp Gotengo kỷ nguyên Showa (海底軍艦 轟天号, Kaitei Gunkan Gōtengō — Oanh Thiên Hào / Atragon) là cỗ máy chiến tranh khoa học viễn tưởng vĩ đại, biểu tượng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất trong toàn bộ lịch sử điện ảnh tokusatsu của Toho, xuất hiện lần đầu trong thiên sử thi phiêu lưu hoành tráng *Atragon* (1963 — 海底軍艦, *Kaitei Gunkan* / Chiến Hạm Đáy Biển) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda chỉ đạo cùng kỹ xảo đỉnh cao của bậc thầy Eiji Tsuburaya. Được thiết kế và bí mật chế tạo trên một hòn đảo nhiệt đới cô lập bởi Đại tá Hải quân thiên tài Hachiro Jinguji, Gotengo là một cỗ máy cơ giáp siêu việt có khả năng tác chiến linh hoạt trên cả ba môi trường: lặn sâu vạn mét dưới đáy đại dương, bay lượn trên bầu trời với vận tốc Mach 2 và khoan xuyên qua các tầng địa chất đất đá trong lòng đất. Với chiều dài 150 mét và khối lượng 10.000 tấn bọc thép siêu hợp kim, trang bị mũi khoan khổng lồ ở mũi tàu và Khẩu Pháo Độ Không Tuyệt Đối (Absolute Zero Cannon) bắn chùm tia đông cứng vật chất xuống -273,15°C, Gotengo đã dũng mãnh đóng băng quái thú thần rồng biển Manda thành một tảng băng khổng lồ và khoan thủng lò phản ứng địa nhiệt của Đế chế Mu dưới đáy biển sâu, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa diệt vong.

10,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1964

King Ghidorah (Showa 1964–1973)

King Ghidorah (Showa)

King Ghidorah kỷ nguyên Showa (キングギドラ, Kingu Gidora), còn được biết đến với mật danh **Monster Zero (Quái Vật Số Không)**, là quái thú phản diện vĩ đại, hung bạo và mang tính biểu tượng bậc nhất trong toàn bộ lịch sử điện ảnh Tokusatsu của Toho. Xuất hiện lần đầu trong *Ghidorah, the Three-Headed Monster* (1964), King Ghidorah là một con rồng không gian hoàng kim ba đầu khổng lồ cao tới 100 mét (gấp đôi kích thước của Godzilla thời bấy giờ), sở hữu đôi cánh dơi khổng lồ và cặp đuôi gai quất siết. Với sức mạnh phóng ra những luồng tia trọng lực sấm sét vàng hủy diệt từ cả ba chiếc miệng, King Ghidorah từng xóa sổ toàn bộ nền văn minh tiên tiến của Kim Tinh chỉ trong vòng 3 ngày trước khi giáng lâm xuống Trái Đất, buộc Godzilla, Rodan và Mothra phải lần đầu tiên gạt bỏ mọi thù hằn để kết thành liên minh sinh tử bảo vệ nhân loại.

100 m30,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1964

Dogora (Showa)

Đại quái thú không gian Dogora kỷ nguyên Showa (宇宙大怪獣 ドゴラ, Uchū Daikaijū Dogora — Quái Thú Không Gian Dogora / Cự Sứa Không Gian) là một trong những thực thể kaiju ngoài hành tinh phi nhân hình kỳ dị và sáng tạo bậc nhất trong lịch sử điện ảnh tokusatsu của Toho, xuất hiện lần đầu trong bộ phim khoa học viễn tưởng kinh điển *Dogora, the Space Monster* (1964 — 宇宙大怪獣ドゴラ, *Uchū Daikaijū Dogora*) do đạo diễn lừng danh Ishirō Honda dàn dựng cùng bậc thầy hiệu ứng hình ảnh Eiji Tsuburaya. Khác biệt hoàn toàn với mô-típ quái thú hình người mặc đồ hóa trang (suitmation), Dogora là một quần thể amip đơn bào ngoài vũ trụ bị đột biến phóng xạ khi tiếp xúc với vành đai bức xạ Van Allen của Trái Đất, hợp nhất thành một sinh thể sứa khổng lồ bán trong suốt phát sáng lơ lửng trên tầng bình lưu. Với cơn đói nguyên tử carbon vô độ, Dogora liên tục tấn công các tàu chở hàng, các hầm mỏ than đá tại miền bắc Kyushu và kho dự trữ kim cương công nghiệp. Quái thú có khả năng phát ra trường chân không phản trọng lực nâng bổng các cột sóng biển và nhấc bổng cây cầu treo Wakato khổng lồ vào không trung. Mọi nỗ lực oanh tạc bằng tên lửa và pháo phòng không đều phản tác dụng khi chỉ khiến Dogora phân bào thành hàng ngàn phân thân độc lập, cho đến khi giới khoa học phát hiện tử huyệt sinh học của nó trước độc tố nọc ong bắp cày.

10,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1965

Baragon (Showa 1965–1968)

Baragon (Showa)

Baragon kỷ nguyên Showa (地底怪獣 バラゴン, Chitei Kaijū Baragon — Quái thú Địa ngầm) là một trong những loài sinh vật cổ xưa mang tính biểu tượng và đáng yêu nhất trong thế giới quái thú Toho. Ra mắt lần đầu trong tác phẩm kinh dị - khoa học viễn tưởng kinh điển *Frankenstein vs. Baragon* (1965 — *Furankenshutain tai Chitei Kaijū Baragon* / *Frankenstein Conquers the World*) của đạo diễn Ishirō Honda và trở lại trong *Destroy All Monsters* (1968 — *Kaijū Sōshingeki*), Baragon là đại diện sống sót của phân bộ bò sát cổ đại thích nghi với cuộc sống ẩn dật dưới các hang động sâu trong lòng đất từ kỷ Trung Sinh. Với chiều cao 25 mét và cân nặng 250 tấn, Baragon di chuyển linh hoạt bằng bốn chân, sở hữu đôi tai to bản có thể gập gọn để chắn bụi khi đào đất, một chiếc sừng mũi phát quang màu cam rực rỡ và khả năng phun ra luồng khí nóng nham thạch (Magma Heat Ray) nung chảy mọi vật cản. Mặc dù từng có trận tử chiến đẫm máu với người khổng lồ Frankenstein tại vùng núi Phú Sĩ, Baragon sau này được chuyển đến Đảo Quái Thú (Monsterland) sinh sống hòa bình và gia nhập liên minh quái thú bảo vệ Trái Đất.

25 m250 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1965

Frankenstein (Showa)

Frankenstein kỷ nguyên Showa (奇怪な巨人 フランケンシュタイン, Kikai na Kyojin Furankenshutain — Người Khổng Lồ Kỳ Quái Frankenstein / Hiroshima Giant) là một trong những cự nhân kaiju nhân văn, bi kịch và độc đáo nhất trong lịch sử điện ảnh Toho, xuất hiện trong tác phẩm kinh điển *Frankenstein vs. Baragon* (1965 — フランケンシュタイン対地底怪獣バラゴン, *Furankenshutain tai Chitei Kaijū Baragon* / *Frankenstein Conquers the World*) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda chỉ đạo cùng kỹ xảo bậc thầy của Eiji Tsuburaya. Khác với các đại quái thú bò sát hay côn trùng khổng lồ đột biến bởi thử nghiệm hạt nhân, Frankenstein là một thực thể hình người nhân tạo phát triển từ trái tim bất tử của quái vật Frankenstein nguyên bản do Đức Quốc xã vận chuyển sang Hiroshima vào mùa hè năm 1945. Hấp thụ lượng bức xạ nhiệt hạch khổng lồ sau vụ ném bom nguyên tử, trái tim này tự phân bào và tái sinh thành một cậu bé hoang dã, trước khi tăng trưởng đột biến thành một cự nhân cơ bắp cao 20 mét. Dù bị xã hội loài người sợ hãi và vu oan cho các vụ tàn sát do quái thú địa hạ Baragon gây ra, Frankenstein vẫn giữ trọn lòng nhân ái ngây thơ, dũng cảm tử chiến bẻ gãy cổ Baragon dưới chân núi Phú Sĩ để bảo vệ các nhà khoa học đã chăm sóc mình, trước khi hy sinh chìm vào lòng đất mẹ nứt toác sau trận động đất dữ dội.

20 m200 metric_tons
Chi tiết