Chuyển đến nội dung chính
Wikikaiju Logo
WIKIKAIJUEncyclopedia
Cơ sở dữ liệu sinh vật khổng lồ

Danh Mục Kaiju

Tra cứu thông số, nguồn gốc và hồ sơ Kaiju qua các vũ trụ điện ảnh.

Tổng số: 161 Kaiju
Showa Era1954

Godzilla (1954)

Godzilla (1954), còn được cộng đồng hâm mộ và giới làm phim gọi là **ShodaiGoji (初代ゴジラ)**, là bản thể khởi nguyên và đặt nền móng cho toàn bộ thương hiệu văn hóa đại chúng Godzilla. Xuất hiện lần đầu trong kiệt tác điện ảnh cùng tên năm 1954 của đạo diễn Ishirō Honda và đạo diễn kỹ xảo Eiji Tsuburaya, Godzilla đại diện cho nỗi ám ảnh kinh hoàng của nhân loại trước sức tàn phá của vũ khí hạt nhân. Là một sinh vật bò sát khổng lồ thời tiền sử ngủ say dưới đáy biển sâu, hắn bị đánh thức và biến đổi gen bởi các vụ thử bom nhiệt hạch tại Thái Bình Dương, mang theo ngọn lửa nguyên tử hủy diệt tấn công thủ đô Tokyo trước khi bị khắc chế bởi vũ khí hóa học Oxygen Destroyer của Tiến sĩ Serizawa.

50 m20,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1955

Godzilla (Showa 1955–1975)

Godzilla (Showa)

Godzilla Đệ Nhị (Showa Godzilla), còn được gọi là **Nidaime Goji (二代目ゴジラ)**, là cá thể Godzilla thứ hai xuất hiện trong lịch sử điện ảnh sau khi cá thể nguyên bản 1954 bị tiêu diệt bởi Oxygen Destroyer. Xuất hiện lần đầu trong *Godzilla Raids Again* (1955) và kéo dài qua 14 bộ phim kinh điển cho đến *Terror of Mechagodzilla* (1975), Godzilla Showa sở hữu hành trình phát triển nhân vật vĩ đại nhất: từ một quái thú tàn phá hung hãn trở thành người bạn đồng hành của loài người, người cha tận tụy nuôi nấng Minilla, và là vị thần hộ mệnh tối thượng bảo vệ Trái Đất trước các cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh và quái thú vũ trụ (King Ghidorah, Gigan, Mechagodzilla).

50 m20,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1955

Anguirus (Showa 1955–1974)

Anguirus (Showa)

Anguirus kỷ nguyên Showa (アンギラス, Angirasu) là quái thú đầu tiên trong lịch sử điện ảnh giao chiến trực diện với Godzilla trong *Godzilla Raids Again* (1955), đánh dấu cột mốc khai sinh khái niệm "Kaiju đối đầu Kaiju" (Monster vs. Monster) cho nền văn hóa đại chúng toàn cầu. Trải qua hai thế hệ cá thể trong kỷ nguyên Chiêu Hòa, từ một loài khủng long giáp gai cổ đại hung bạo đối nghịch, Anguirus đã hồi sinh và trở thành người bạn đồng hành thân thiết, trung thành và quả cảm nhất của Godzilla trên Đảo Quái Thú (Monsterland / Monster Island), sát cánh chống lại các mối đe dọa xâm lăng vũ trụ như King Ghidorah, Gigan và Mechagodzilla.

35 m30,000 t
Chi tiết
Showa Era1956

Rodan (Showa 1956–1972)

Rodan (Showa)

Rodan kỷ nguyên Showa (ラドン, Radon) là một trong "Tam Đại Quái Thú Toho" (The Big Three cùng với Godzilla và Mothra), đồng thời là quái thú đầu tiên của Toho được đưa lên màn ảnh rộng bằng phim màu trong tuyệt tác điện ảnh *Rodan* (1956). Mang hình hài loài dực long Pteranodon tiền sử khổng lồ thức tỉnh từ lòng núi lửa Aso, Rodan sở hữu đôi cánh sải rộng hơn 100 mét có khả năng bay đạt vận tốc siêu thanh Mach 3, tạo ra những cơn lốc xoáy và sóng chấn động san bằng toàn bộ các thành phố bên dưới. Từ cặp đôi quái thú bi kịch năm 1956, cá thể Rodan tái xuất năm 1964 đã trở thành đồng minh chiến lược số một trên không của Godzilla, hợp sức cùng ấu trùng Mothra đánh bại rồng không gian ba đầu King Ghidorah và bảo vệ nền hòa bình của Trái Đất.

50 m15,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1956

Meganulon (Showa)

Quái trùng tiền sử Meganulon kỷ nguyên Showa (古代トンボ幼虫 メガヌロン, Kodai Tonbo Yōchū Meganuron — Ấu Trùng Chuồn Chuồn Khổng Lồ Cổ Đại Meganulon) là một trong những sinh vật quái thú côn trùng kinh dị và giàu tính sinh thái cổ sinh vật học nhất trong lịch sử điện ảnh Toho, xuất hiện lần đầu trong bộ phim tokusatsu màu đầu tiên của hãng *Rodan* (1956 — 空の大怪獣 ラドン, *Sora no Daikaijū Radon* / Đại Quái Thú Bầu Trời Radon) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda chỉ đạo cùng kỹ xảo tài ba của Eiji Tsuburaya. Được đánh thức sau hàng trăm triệu năm ngủ vùi trong các tầng địa chất ngập nước sâu dưới lòng mỏ than Kitamatsu thuộc khu vực núi lửa Aso (Kyushu), Meganulon là ấu trùng khổng lồ của loài chuồn chuồn tiền sử *Meganeura* sống từ kỷ Than Đá (Carboniferous). Dài 8 mét và nặng 1 tấn với lớp vỏ bọc chitin dày trơ lỳ trước đạn súng trường, cùng cặp càng răng cưa khổng lồ sắc bén, Meganulon đã tấn công xé xác nhiều thợ mỏ và cảnh sát, gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ cho ngôi làng khai khoáng hẻo lánh. Tuy nhiên, khi một trận sụt lún địa chất mở lối vào hang động nham thạch ngầm dưới chân núi Aso, đàn Meganulon hung hãn lại trở thành mắt xích thức ăn đầu đời cho chú chim non dực long khổng lồ Rodan vừa đập vỏ trứng chào đời.

2 m1 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1957

Moguera (Showa)

Cự robot địa hạ Moguera kỷ nguyên Showa (ロボット怪獣 モゲラ, Robotto Kaijū Mogera — Quái Thú Cơ Giáp Moguera / Mysterian Subterranean Robot) là tượng đài lịch sử bất hủ của điện ảnh tokusatsu Nhật Bản, đánh dấu sự ra đời của nhân vật mecha/cơ giáp khổng lồ đầu tiên trong lịch sử xưởng phim Toho, xuất hiện trong thiên anh hùng ca khoa học viễn tưởng *The Mysterians* (1957 — 地球防衛軍, *Chikyū Bōeigun* / Lực Lượng Phòng Vệ Trái Đất) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda dàn dựng cùng bậc thầy kỹ xảo Eiji Tsuburaya. Được thiết kế và chế tạo bởi chủng tộc ngoài hành tinh Mysterian — những kẻ sống sót sau khi hành tinh mẹ Mysteroid (hành tinh thứ 5 trong hệ Mặt Trời) bị hủy diệt bởi chiến tranh nhiệt hạch — Moguera ban đầu là một cỗ máy công trình đào hầm địa chất vũ trụ hạng nặng được hoán cải thành vũ khí tiên phong xâm lược Trái Đất. Cao 50 mét và nặng 50.000 tấn với lớp vỏ thép gợn sóng hình ống xếp tầng, chiếc mũi khoan hợp kim xoay tít và đôi mắt phát quang bắn ra chùm tia plasma nhiệt hạch kép, Moguera đã càn quét qua các làng mạc chân núi Phú Sĩ, nghiền nát xe tăng thiết giáp của Lực lượng Phòng vệ trước khi bị đánh sập nhịp cầu sắt trong một chiến thuật bẫy nổ quả cảm của loài người.

50 m50,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1958

Varan (Showa 1958–1968)

Varan (Showa)

Varan kỷ nguyên Showa (大怪獣バラン, Daikaijū Baran — hay thần núi Baradagi-sama 婆羅陀巍山神) là một trong những quái thú cổ xưa và độc đáo bậc nhất trong lịch sử điện ảnh Toho, nổi danh với danh hiệu độc tôn: **Chúa tể thống trị Tam Phân Lục Hải Không** (Land, Sea, and Air). Ra mắt lần đầu trong kiệt tác viễn tưởng *Varan the Unbelievable* (1958 — *Daikaijū Baran*) do đạo diễn Ishirō Honda chỉ đạo và huyền thoại Eiji Tsuburaya dàn dựng kỹ xảo, Varan là đại diện sống sót của chi bò sát bay tiền sử *Varanopode* ngự trị suốt hàng triệu năm tại thung lũng bí ẩn của dãy núi Kitakami, vùng Tohoku Nhật Bản. Sở hữu chiều cao 50 mét, cân nặng 15.000 tấn với lớp da vảy xám gai góc và hàng gai nhọn trắng muốt chạy dọc sống lưng, Varan có khả năng lặn sâu dưới đáy hồ Iwadai, di chuyển linh hoạt trên cạn và đặc biệt là dang rộng màng da lượn (patagium) nối giữa tứ chi để bay liệng xuyên mây với tốc độ Mach 1.5. Trở lại trong thiên anh hùng ca *Destroy All Monsters* (1968), Varan được bảo tồn trong thanh bình tại Đảo Quái Thú (Monsterland) và bay lượn uy dũng trên bầu trời chúc mừng ngày khải hoàn của Trái Đất.

50 m15,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1961

Mothra (Showa 1961–1968)

Mothra (Showa)

Mothra kỷ nguyên Showa (モスラ, Mosura) là một trong những thực thể Kaiju vĩ đại và được tôn kính nhất trong lịch sử điện ảnh Toho, cấu thành nên bộ ba "Tam Đại Quái Thú" (The Big Three) cùng với Godzilla và Rodan. Khác biệt hoàn toàn với bản chất tàn phá hay giận dữ của hầu hết quái thú thời bấy giờ, Mothra là hiện thân thiêng liêng của tình mẫu tử, lòng vị tha, sự bảo hộ thiên nhiên và khát vọng hòa bình. Trải qua chu kỳ biến thái sinh học kỳ diệu từ Ấu trùng (Larva) bơi vượt trùng khơi đến Bướm thần trưởng thành (Imago) giương cánh rực rỡ từ kén tơ trên Tháp Tokyo, Mothra đã nhiều lần xả thân hy sinh để bảo vệ trứng, đồng thời là chiếc cầu nối hàn gắn mối thù giữa các quái thú Trái Đất để cùng liên minh chống lại hiểm họa diệt vong từ King Ghidorah.

20,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1962

King Kong (Toho Showa 1962–1967)

King Kong (Showa)

King Kong kỷ nguyên Showa (キングコング, Kingu Kongu) là một trong những cột mốc vĩ đại và thành công thương mại rực rỡ nhất trong lịch sử điện ảnh Toho. Xuất hiện dưới thỏa thuận nhượng quyền chính thức từ hãng RKO Pictures, King Kong đã mở màn kỷ nguyên phim màu màn ảnh rộng Tokusatsu trong siêu phẩm kinh điển *King Kong vs. Godzilla* (1962) của đạo diễn Ishirō Honda — bộ phim nắm giữ kỷ lục lượng vé bán ra cao nhất lịch sử thương hiệu Godzilla với 12,55 triệu lượt khán giả tại Nhật Bản — trước khi tiếp tục tỏa sáng trong *King Kong Escapes* (1967). Khác biệt với nguyên tác phương Tây, phiên bản King Kong thời Showa của Toho là một vị thần linh trưởng khổng lồ cao tới 45m ngự trị tại đảo nhiệt đới Faro (và sau này là đảo Mondo). Được người dân bản địa tôn thờ và xoa dịu bằng nước ép quả thuốc phiện đỏ Soma, King Kong sở hữu thể lực cận chiến kinh hồn, trí khôn linh trưởng vượt trội, và đặc biệt là năng lực sinh học độc nhất vô nhị: hấp thụ các luồng sét đánh tự nhiên để sạc đầy năng lượng và phóng ra dòng điện cao thế qua các đầu ngón tay làm tê liệt Godzilla.

45 m20,500 metric_tons
Chi tiết