Chuyển đến nội dung chính
Wikikaiju Logo
WIKIKAIJUEncyclopedia
Cơ sở dữ liệu sinh vật khổng lồ

Danh Mục Kaiju

Tra cứu thông số, nguồn gốc và hồ sơ Kaiju qua các vũ trụ điện ảnh.

Tổng số: 161 Kaiju
Heisei Era1989

Biollante (Heisei)

Biollante (ビオランテ, Biorante) là một trong những đại quái thú độc đáo, đồ sộ, bi tráng và giàu tính triết lý nhân văn nhất trong toàn bộ biên niên sử điện ảnh Toho, xuất hiện lần đầu trong kiệt tác khoa học viễn tưởng *Godzilla vs. Biollante* (1989 — ゴジラVSビオランテ) dưới sự chỉ đạo của đạo diễn Kazuki Omori. Được sáng tạo dựa trên ý tưởng đạt giải nhất trong cuộc thi biên kịch toàn quốc của nha sĩ kiêm nhà văn Shinichiro Kobayashi, Biollante là hiện thân đau đớn cho sự ngạo mạn của con người khi can thiệp vào công nghệ chỉnh sửa gen và bản đồ di truyền sự sống. Là một sinh vật lai ghép ba nguồn gen vô tiền khoáng hậu (chimera) giữa linh hồn và DNA của cô gái trẻ Erika Shiragami, tế bào của một nhánh hoa hồng lai và các tế bào phóng xạ bất tử của Godzilla (G-Cells), Biollante sở hữu sự phát triển tế bào biến dị vượt ngoài tầm kiểm soát. Từ hình thái ban đầu là một đóa hoa hồng khổng lồ cao 85 mét ngự giữa mặt nước bảng lảng khói sương của hồ Ashi, Biollante đã tiến hóa vượt bậc thành dạng Thực Vật Quái Thú (Plant Beast Form) cao 120 mét với khối lượng lên tới 200.000 tấn — một trong những thực thể nặng nhất từng bước đi trên mặt đất trong lịch sử phim quái thú. Bằng hàm mõm cá sấu khổng lồ ken dày hàng trăm răng nanh, bốn xúc tu săn mồi có miệng và khả năng phun dòng axit ăn mòn nung chảy kim loại, Biollante đã đẩy Godzilla vào trận tử chiến khốc liệt nhất tại vịnh Wakasa trước khi thăng hoa thành hàng triệu bào tử vàng lấp lánh bay vào không gian bao la.

120 m200,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1989

Super X2 (Heisei)

Siêu chiến hạm cơ động không người lái Super X2 (スーパーX2, Sūpā Ekkusu Tsū — Super X-II) là bước nhảy vọt công nghệ quân sự mang tính cách mạng của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF), xuất hiện lần đầu trong tác phẩm bom tấn *Godzilla vs. Biollante* (1989 — ゴジラVSビオランテ). Được phát triển để khắc phục những hạn chế chết người của cỗ máy tiền nhiệm Super X (1984) — vốn chịu tổn thất toàn bộ phi hành đoàn khi bị sập cao ốc đè nát — Super X2 được thiết kế hoàn toàn không người lái (unmanned), vận hành thông qua hệ thống điều khiển từ xa bằng sóng vệ tinh và cáp quang quân sự tối tân từ một căn cứ boongke ngầm sâu dưới lòng đất Tokyo. Điểm sáng chói lọi và vũ khí mang tính biểu tượng nhất của Super X2 là "Gương Lửa" (Fire Mirror) — một chiếc đĩa phản xạ tráng lớp màng kim cương nhân tạo siêu cứng lắp ẩn trong mũi tàu. Khi đối đầu với Godzilla, mũi tàu Super X2 sẽ tách đôi mở ra, đón nhận trọn vẹn luồng hơi thở nguyên tử hạt nhân của quái thú, hội tụ và khuếch đại năng lượng đó lên gấp 10.000 lần rồi phóng trả ngược lại dưới dạng một chùm plasma năng lượng chói lòa màu vàng kim. Dưới sự điều khiển tài tình của viên chỉ huy trẻ tuổi Thiếu úy Sho Kuroki, Super X2 đã trở thành cơn ác mộng trên không đối với Godzilla tại eo biển Uraga và trung tâm thành phố Osaka.

11.5 m160 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1991

King Ghidorah (Heisei)

King Ghidorah thời kỳ Heisei (キングギドラ, Kingu Gidora, 1991) là sự tái sinh huy hoàng, quyền uy và đáng sợ nhất của vị "Thần Hủy Diệt Hoàng Kim", xuất hiện trong siêu phẩm du hành thời gian *Godzilla vs. King Ghidorah* (1991 — ゴジラVSキングギドラ) do Kazuki Omori làm đạo diễn và Koichi Kawakita chỉ đạo kỹ xảo. Khác biệt hoàn toàn với phiên bản Showa vốn là một hung thần ngoài hành tinh hủy diệt nền văn minh sao Kim, Heisei King Ghidorah được tái định hình nguồn gốc gắn liền với công nghệ sinh học thế kỷ 23 và thảm họa thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch của loài người. Với chiều cao choáng ngợp lên tới 140 mét (vượt trội hoàn toàn so với Godzilla 100 mét), sải cánh khổng lồ 175 mét che khuất bầu trời và bộ vảy vàng óng ánh sắc lạnh, Heisei King Ghidorah là một cỗ máy hủy diệt sinh học hoàn hảo. Dưới sự điều khiển sóng âm não bộ của nhóm người du hành thời gian Futurians, con rồng ba đầu đã san phẳng các thành phố lớn của Nhật Bản bằng chùm ba Tia Trọng Lực (Gravity Beams) sấm sét vàng rực, trước khi nghênh chiến trong cuộc đại quyết chiến kinh điển với Godzilla trên những ngọn đồi cỏ bạt ngàn của đảo Hokkaido.

140 m70,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1991

Mecha-King Ghidorah (Heisei)

Chiến long cơ giáp Mecha-King Ghidorah (メカキングギドラ, Meka Kingu Gidora) là một trong những kiệt tác thiết kế mecha-kaiju lai ghép ngoạn mục, giàu cảm xúc và mang tính bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử 70 năm của dòng phim Godzilla, xuất hiện ở nửa sau tác phẩm bom tấn kinh điển *Godzilla vs. King Ghidorah* (1991 — ゴジラVSキングギドラ) của đạo diễn Kazuki Omori và đạo diễn kỹ xảo Koichi Kawakita. Là sự kết hợp phi thường giữa thi hài sinh học của rồng ba đầu King Ghidorah và công nghệ cơ khí điều khiển học (cybernetics) siêu tưởng của thế kỷ 23, Mecha-King Ghidorah đã chuyển biến từ một kẻ thù hủy diệt thành vị cứu tinh cuối cùng của nhân loại trước cơn thịnh nộ không thể ngăn cản của Godzilla 100 mét. Được trang bị một chiếc đầu máy trung tâm bằng kim loại mạ chrome tích hợp pháo laser xung năng lượng cao, đôi cánh cơ khí hợp kim siêu cứng gắn các tấm thu năng lượng mặt trời khổng lồ, giáp ngực titan bảo vệ buồng lái hiện đại dành cho nữ phi công Emmy Kano cùng trí tuệ nhân tạo M-11, Mecha-King Ghidorah sở hữu sức mạnh cận chiến và khống chế quái thú vô song. Vũ khí quyết định của nó — "Bàn Tay Cơ Giới" (Machine Hand) kết hợp các sợi cáp phóng điện cao thế hàng triệu vôn — đã trực tiếp khóa chặt thân hình khổng lồ của Godzilla giữa bầu trời đêm Shinjuku, kéo quái thú lao thẳng xuống đáy biển sâu vịnh Tokyo để giải cứu thủ đô Nhật Bản thoát khỏi bờ vực diệt vong.

140 m80,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1991

Godzillasaurus (Heisei)

Godzillasaurus (ゴジラザウルス, Gojirazaurusu) là một cá thể khủng long tiền sử độc nhất vô nhị, mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc và nền tảng cốt lõi định hình toàn bộ dòng thời gian của kỷ nguyên Heisei, xuất hiện trong tác phẩm kinh điển *Godzilla vs. King Ghidorah* (1991 — ゴジラVSキングギドラ). Là một cá thể khủng long chân thú ăn thịt (theropod) khổng lồ sống sót kỳ diệu qua sự kiện tuyệt chủng K-T từ kỷ Phấn Trắng, Godzillasaurus chính là dạng sinh học nguyên bản, thuần khiết chưa hề bị biến đổi phóng xạ của Vua của Quái Thú Godzilla. Sinh sống cô lập trong khu rừng mưa nhiệt đới rậm rạp trên đảo Lagos thuộc quần đảo Marshall ở Nam Thái Bình Dương, Godzillasaurus có chiều cao 12 mét và chiều dài 24 mét với khối lượng 60 tấn. Vào tháng 2 năm 1944 giữa khói lửa Thế chiến II, sự xuất hiện hung hãn để bảo vệ lãnh thổ của con khủng long đã vô tình giải cứu toàn bộ đơn vị đồn trú của Quân đội Hoàng gia Nhật Bản do Thiếu tá Yasuaki Shindo chỉ huy thoát khỏi sự tiêu diệt của quân đội Mỹ. Cuộc gặp gỡ định mệnh này cùng mối liên kết ân nghĩa thiêng liêng giữa con người và quái thú tiền sử đã tạo nên một trong những trường đoạn điện ảnh cảm động và đáng nhớ nhất trong lịch sử tokusatsu.

12 m60 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1991

Dorat (Heisei)

Dorat (ドラット, Doratto) là một trong những sáng tạo sinh học độc đáo, bất ngờ và mang tính mấu chốt bậc nhất trong việc thiết lập nguồn gốc mới cho đại quái thú King Ghidorah trong kỷ nguyên Heisei, xuất hiện trong tác phẩm khoa học viễn tưởng du hành thời gian *Godzilla vs. King Ghidorah* (1991 — ゴジラVSキングギドラ) của đạo diễn Kazuki Omori. Khác với quy mô khổng lồ của các đại kaiju, Dorat là một sinh vật nhỏ bé, dễ thương, có kích thước tương đương một chú mèo nhà với chiều dài 80 cm và nặng chỉ khoảng 0,8 kg. Được tạo ra bởi kỹ thuật chỉnh sửa gen và công nghệ sinh học tiên tiến của thế kỷ 23 (năm 2204), Dorat vốn được nhân bản đại trà làm thú cưng gia đình nhờ tính cách hiền lành, trung thành và khả năng gắn kết cảm xúc sâu sắc với con người. Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài ngây thơ đáng yêu đó, bộ ba cá thể Dorat đã bị nhóm người du hành thời gian Futurians biến thành công cụ trong một âm mưu địa chính trị tàn độc. Bằng cách cố tình bỏ lại ba con Dorat trên đảo hoang Lagos vào năm 1944, nhóm Futurians đã để chúng phơi nhiễm lượng phóng xạ nhiệt hạch đậm đặc từ vụ thử bom hydro năm 1954 tại đảo Bikini, kích hoạt quá trình hợp nhất tế bào và siêu đột biến gen dị thường biến ba chú thú cưng nhỏ bé thành con rồng vàng ba đầu hủy diệt King Ghidorah.

0.3 m0.001 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1992

Battra (Heisei)

Battra (バトラ, Batora — Battle Mothra / Bướm Đêm Chiến Binh) là một trong những đại quái thú hộ mệnh thần thoại vĩ đại, phức tạp và bi tráng nhất trong toàn bộ kỷ nguyên Heisei, xuất hiện lần đầu trong siêu phẩm bom tấn ăn khách nhất năm 1992 của Toho *Godzilla vs. Mothra* (1992 — ゴジラVSモスラ) dưới sự chỉ đạo của đạo diễn Takao Okawara và bậc thầy kỹ xảo Koichi Kawakita. Trái ngược hoàn toàn với Mothra — vị nữ thần bảo hộ ôn hòa và che chở cho nhân loại — Battra là hiện thân của "cơn thịnh nộ nguyên thủy của Trái Đất", được sinh quyển hành tinh tạo ra như một cơ chế tự vệ tàn bạo nhằm thanh trừng mọi nền văn minh làm tổn hại đến sự cân bằng sinh thái. Được khai sinh từ 12.000 năm trước để tiêu diệt cỗ máy biến đổi khí hậu của nền văn minh cổ đại Cosmos, Battra sở hữu hai hình thái chiến đấu đầy uy lực: dạng Ấu Trùng (Larva Form) là một con sâu khổng lồ dài 90 mét bọc giáp sừng đen nhọn hoắt với chiếc sừng phát sáng có thể đào xuyên qua dung nham và mảng kiến tạo địa chất; và dạng Trưởng Thành (Imago Form) là một con bướm đêm hắc ám dài 73 mét với sải cánh răng cưa 180 mét rực màu đen, đỏ và vàng rực lửa, trang bị cặp mắt ruby phóng Tia Lăng Kính (Prism Beams) uốn lượn chết chóc. Trải qua muôn vàn hiểu lầm và xung đột đẫm máu, Battra cuối cùng đã thấu hiểu người chị em Mothra, hy sinh mạng sống để cùng phong ấn Godzilla xuống biển sâu và gửi gắm sứ mệnh ngăn chặn thiên thạch hủy diệt lại cho hậu thế.

30,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1992

Mothra (Heisei 1992–1994)

Mothra (Heisei)

Mothra kỷ nguyên Heisei (モスラ, Mosura) là hiện thân thiêng liêng của sinh quyển và ý chí bảo hộ sự sống trên Trái Đất. Khác biệt với bản sao đối nghịch Battra sinh ra để hủy diệt loài người ô uế, Mothra đại diện cho lòng vị tha, sự dung hòa và bảo vệ toàn bộ muôn loài kể cả nhân loại. Sau giấc ngủ kéo dài 12.000 năm trên Đảo Infant hoang sơ, quả trứng khổng lồ của Mothra bị bão lớn lộ diện và được chuyển về Nhật Bản, dẫn đến sự thức tỉnh của ấu trùng Larva khổng lồ. Bằng lòng trung kiên tìm lại hai tiểu tiên Cosmos (Shobijin), Mothra bơi qua đại dương, tiến vào trung tâm Tokyo và dệt kén biến thái thành Bướm thần Imago rực rỡ ngay trên Tòa nhà Quốc hội Nhật Bản. Tại Yokohama Minato Mirai, Mothra đã cảm hóa Battra, cùng người anh em bóng tối kết thành liên minh kinh điển đẩy lùi Godzilla xuống đáy biển sâu, trước khi một mình bay vào vũ trụ bao la để thực hiện lời hứa bảo vệ nhân loại khỏi thiên thạch diệt vong.

20,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1993

Mechagodzilla (Heisei 1993)

Mechagodzilla (Heisei)

Mechagodzilla kỷ nguyên Heisei (メカゴジラ, Mekagojira), thường được định danh trong quân sự là **UX-02-93**, là vũ khí chống Kaiju tối tân và uy lực bậc nhất từng được loài người kiến tạo trong toàn bộ vũ trụ Godzilla Toho. Được chế tạo bởi Trung tâm Chống Godzilla của Liên Hợp Quốc (UNGCC) và lực lượng đặc nhiệm G-Force, cỗ máy được đảo ngược kỹ thuật trực tiếp từ phần đầu cơ khí chứa vi mạch thế kỷ 23 của Mecha-King Ghidorah trục vớt từ đáy biển. Với chiều cao 120 mét và trọng lượng 150.000 tấn, Mechagodzilla được bọc lớp giáp kim cương nhân tạo NT-1 Diamond Coating trứ danh có khả năng hấp thụ hoàn toàn tia nhiệt nguyên tử của Godzilla và chuyển hóa thành phát bắn Lựu Đạn Plasma (Plasma Grenade) hủy diệt từ bụng. Khi kết hợp với chiến đấu cơ Garuda tạo thành **Super Mechagodzilla**, cỗ máy đã sử dụng hệ thống mỏ neo G-Crusher phóng dòng điện cao thế xuyên phá và phá hủy thành công bộ não thứ hai trong xương cùng của Godzilla, suýt chút nữa đã chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của Vua Quái Thú trước khi linh hồn Fire Rodan can thiệp.

120 m150,000 metric_tons
Chi tiết