Chuyển đến nội dung chính
Wikikaiju Logo
WIKIKAIJUEncyclopedia
Cơ sở dữ liệu sinh vật khổng lồ

Danh Mục Kaiju

Tra cứu thông số, nguồn gốc và hồ sơ Kaiju qua các vũ trụ điện ảnh.

Tổng số: 161 Kaiju
Showa Era1972

Goliath (Showa)

Đại quái thú không gian Goliath kỷ nguyên Showa (宇宙怪獣 ゴリアス, Uchū Kaijū Goriasu — Quái Thú Vũ Trụ Goliath / Cự Thú Quả Lợi Á) là quái vật phản diện chính hung tàn và tàn bạo trong bộ phim điện ảnh tokusatsu hợp tác đặc biệt *Daigoro vs. Goliath* (1972 — 怪獣大奮戦 ダイゴロウ対ゴリアス, *Kaijū Daifunsen: Daigorō tai Goriasu*) do Tsuburaya Productions sản xuất và Toho phát hành nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Tsuburaya. Đến từ chiều sâu thăm thẳm của vũ trụ bên trong một khối thiên thạch bốc cháy rực lửa đâm sầm xuống bờ biển Nhật Bản, Goliath là một bipedal kaiju bọc giáp gai nhọn cao 40 mét và nặng 10.000 tấn mang bản chất hiếu chiến cuồng loạn. Điểm đặc trưng nguy hiểm nhất của Goliath là chiếc sừng vàng nhọn hoắt phát quang ngự trị trên đỉnh trán, có khả năng tích tụ năng lượng vũ trụ và phóng ra những luồng sét điện cao thế hàng triệu vôn phá hủy các trạm điện, kho dầu và làm tê liệt mọi đối thủ. Với sức mạnh vượt trội, Goliath từng đánh bại chú khủng long Daigoro trong trận đầu trước khi bị đối thủ khổ luyện quyền anh phục thù, dùng lửa cay thiêu gãy chiếc sừng quyền năng và hạ đo ván.

40 m10,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1973

Jet Jaguar (Showa 1973)

Jet Jaguar (Showa)

Jet Jaguar kỷ nguyên Showa (ジェットジャガー, Jetto Jagā — Ban đầu có tên "Red Alone" trong cuộc thi thiết kế của trẻ em Nhật Bản) là một trong những biểu tượng anh hùng cơ giới độc đáo, tràn đầy tinh thần lạc quan và trượng nghĩa bậc nhất lịch sử hãng Toho. Ra mắt trong tác phẩm hành động Tokusatsu sôi động *Godzilla vs. Megalon* (1973) của đạo diễn Jun Fukuda, Jet Jaguar ban đầu là một robot hình nhân tự hành thông minh kích thước người thường do kỹ sư tài ba Goro Ibuki chế tạo. Bị đặc vụ của Đế chế ngầm Seatopia cướp quyền điều khiển để dẫn đường cho bọ hung khổng lồ Megalon tàn phá mặt đất, Jet Jaguar sau khi được giải cứu đã thực hiện một kỳ tích chưa từng có: tự phát triển ý thức và cảm xúc độc lập, tự viết lại mã nguồn vi mạch bên trong và phóng to cơ thể lên kích thước khổng lồ 50m nặng 25.000 tấn để bảo vệ nhân loại. Với võ công Karate điêu luyện, khả năng bay phản lực siêu thanh Mach 3.5 và lòng quả cảm phi thường, Jet Jaguar đã kề vai sát cánh cùng Godzilla đánh tan liên minh Megalon - Gigan, để lại khoảnh khắc cái bắt tay khổng lồ kinh điển đi vào huyền thoại điện ảnh quái thú.

50 m25,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1973

Megalon (Showa 1973)

Megalon (Showa)

Megalon kỷ nguyên Showa (昆虫怪獣 メガロ, Konchū Kaijū Megaro — Quái thú Côn trùng) là hiện thân của cơn phẫn nộ địa chấn dưới lòng đất, đồng thời là một trong những quái thú có ngoại hình ấn tượng và độc đáo nhất thời kỳ Chiêu Hòa. Ra mắt trong tác phẩm kinh điển *Godzilla vs. Megalon* (1973) của đạo diễn Jun Fukuda, Megalon là vị thần hộ mệnh tối cao của nền văn minh ngầm dưới đáy biển Seatopia — một đế chế cổ đại bị tàn phá nặng nề bởi những vụ thử bom nhiệt hạch vô trách nhiệm của các quốc gia trên mặt đất. Mang hình dạng của một con bọ hung tê giác hai chân khổng lồ nặng 40.000 tấn với lớp giáp chitin đen vàng bất hoại, Megalon là một cỗ máy phá hoại sống: cặp cẳng tay là hai mũi khoan xoay bằng thép tôi có thể ghép lại để khoan thủng mọi tầng địa chất, chiếc sừng nhọn hình chữ V có khả năng phóng ra những tia sét năng lượng hủy diệt, và miệng có thể bắn ra những quả cầu lửa Napalm phát nổ như bom napalm công nghiệp. Được dẫn đường bởi người máy Jet Jaguar bị chiếm đoạt và sau đó được tăng viện bởi sát thủ bionic Gigan, Megalon đã san phẳng đập thủy điện Kurobe và thách thức quyền năng của Godzilla trong trận huyết chiến bảo vệ bề mặt Trái Đất.

55 m40,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1974

King Caesar (Showa 1974)

King Caesar (Showa)

King Caesar kỷ nguyên Showa (キングシーサー, Kingu Shīsā — Bắt nguồn từ Shisa, loài linh thú sư tử đá hộ mệnh của quần đảo Ryukyu / Okinawa) là một trong những thần thú cổ xưa cao quý và linh thiêng bậc nhất từng xuất hiện trong thời kỳ Chiêu Hòa của Toho. Ra mắt trong siêu phẩm kỷ niệm 20 năm thương hiệu *Godzilla vs. Mechagodzilla* (1974) của đạo diễn Jun Fukuda, King Caesar là hiện thân của lời sấm truyền bảo hộ dân tộc: khi một con quái vật sắt đen từ trời rơi xuống hủy diệt thế giới, hai quái thú hộ mệnh sẽ trỗi dậy giải cứu nhân gian. Khác biệt hoàn toàn với các quái thú mang bản năng hoang dã, King Caesar là một vị thần ngủ say trong vách đá Mũi Manzamo, chỉ thức tỉnh khi bức tượng ngọc cổ truyền của gia tộc hoàng gia Azumi được đặt đúng vị trí và công chúa Nami cất vang khúc ca linh thiêng *"Miyarabi no Inori"*. Sở hữu võ nghệ cận chiến linh hoạt, các cú phóng người húc vai sấm sét và đặc biệt là đôi mắt lăng kính quang học có khả năng hút trọn tia laser của đối thủ rồi bắn trả với uy lực gấp bội, King Caesar đã kề vai sát cánh cùng Godzilla trong trận huyết chiến sinh tử đập tan pháo đài robot Mechagodzilla 1.

50 m30,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1974

Mechagodzilla (Showa 1974–1975)

Mechagodzilla (Showa)

Mechagodzilla kỷ nguyên Showa (メカゴジラ, Meka Gojira) là quái thú cơ giới hủy diệt vĩ đại nhất từng xuất hiện trên màn ảnh Toho, đồng thời là đối thủ cơ khí tàn bạo, áp đảo bậc nhất của Godzilla trong hai tác phẩm kinh điển khép lại thời kỳ Chiêu Hòa: *Godzilla vs. Mechagodzilla* (1974) và *Terror of Mechagodzilla* (1975). Được chế tạo bởi nền văn minh hiếu chiến của người ngoài hành tinh Lỗ Đen Hành Tinh 3 (Black Hole Planet 3 Aliens) từ hợp kim vũ trụ siêu bền "Titan Không Gian" (Space Titanium), Mechagodzilla là một kho vũ khí di động khổng lồ nặng tới 40.000 tấn được trang bị hỏa lực tên lửa và tia laser bao phủ từ đầu đến chân. Từ dạng vỏ bọc ngụy trang giả danh Godzilla (Fake Godzilla) đánh gãy hàm Anguirus, đến các phiên bản MG1 và MG2 phối hợp cùng quái long Titanosaurus, Mechagodzilla đã nhiều lần đẩy Godzilla vào tình thế thập tử nhất sinh.

50 m40,000 metric_tons
Chi tiết
Showa Era1975

Titanosaurus (Showa 1975)

Titanosaurus (Showa)

Titanosaurus kỷ nguyên Showa (チタノザウルス, Chitanozaurusu) là một trong những kaiju mang tính bi kịch và có tạo hình ấn tượng bậc nhất trong lịch sử Toho. Ra mắt lần đầu và duy nhất thời kỳ này trong bộ phim kinh điển *Terror of Mechagodzilla* (1975 - *Mekagojira no Gyakushū*) do đạo diễn huyền thoại Ishirō Honda chỉ đạo, Titanosaurus khép lại toàn bộ 21 năm lịch sử của kỷ nguyên Godzilla Showa nguyên bản. Khác biệt với những loài quái vật không gian tàn ác hay quái thú đột biến phóng xạ, Titanosaurus thực chất là một loài khủng long lội nước tiền sử hiền lành sống ẩn dật dưới đáy biển sâu Thái Bình Dương. Bị lợi dụng bởi nhà sinh vật học biển Shinzo Mafune mang mối thù với xã hội loài người và người ngoài hành tinh Hành tinh Hắc Động Thứ 3 (Black Hole Planet 3 Aliens), Titanosaurus bị cấy ghép thiết bị sóng âm điều khiển não bộ thông qua cô con gái người máy Katsura Mafune. Mang thân hình cao 60 mét, nặng 30.000 tấn với lớp da màu cam đỏ đốm đen rực rỡ, Titanosaurus sở hữu sức mạnh cơ bắp phi thường và chiếc đuôi vây quạt khổng lồ có thể tạo ra những cơn lốc xoáy cuồng phong thổi bay Godzilla và san phẳng bờ biển Yokosuka.

60 m30,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1984

Godzilla (Heisei)

Godzilla kỷ nguyên Heisei (平成ゴジラ, Heisei Gojira, 1984–1995) là bản thể điện ảnh hùng vĩ, đen tối, có quy mô tàn phá khốc liệt và giàu tính biểu tượng bậc nhất trong toàn bộ lịch sử 70 năm của nhượng quyền thương mại Toho. Được khai sinh để tái thiết lập lại hình tượng Godzilla như một thảm họa hạt nhân kinh hoàng và một lực lượng tự nhiên bất khả kháng, Heisei Godzilla đã đưa thương hiệu quái thú thoát khỏi phong cách siêu anh hùng dành cho thiếu nhi cuối thời Showa, mở ra kỷ nguyên vàng kéo dài 7 tác phẩm bom tấn liền mạch. Khác với vũ trụ Showa gồm nhiều phần phim chia rẽ, kỷ nguyên Heisei sở hữu một dòng thời gian thống nhất và chặt chẽ, nơi Godzilla xuất hiện như một cá thể khủng long Godzillasaurus đột biến thứ hai (tiếp nối cá thể gốc năm 1954 bị Oxygen Destroyer tiêu diệt). Từ hình thể ban đầu cao 80 mét thức tỉnh từ lòng núi lửa đảo Daikokujima năm 1984, Godzilla được tái đột biến bởi năng lượng tàu ngầm hạt nhân để vươn lên tầm vóc 100 mét hùng vĩ vào năm 1991. Xuyên suốt một thập kỷ chinh chiến, Godzilla lần lượt đánh bại những kỳ quan công nghệ của con người (Super X, Super X2, Mechagodzilla II, M.O.G.U.E.R.A.) và những thực thể quái thú vũ trụ hay đột biến gen tột cùng (Biollante, King Ghidorah, Mecha-King Ghidorah, Battra, SpaceGodzilla), trước khi bước vào trạng thái hạt nhân quá nhiệt tới hạn Burning Godzilla và đón nhận cái chết tan chảy bi tráng trong *Godzilla vs. Destoroyah* (1995).

100 m60,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1984

Super X (Heisei)

Pháo đài bay cơ động phòng thủ thủ đô Super X (首都防衛移動要塞 スーパーX, Shuto Bōei Idō Yōsai Sūpā Ekkusu) là một trong những cỗ máy chiến tranh khoa học viễn tưởng ấn tượng và có tính bước ngoặt nhất trong lịch sử điện ảnh tokusatsu Toho, xuất hiện lần đầu trong siêu phẩm tái khởi động *The Return of Godzilla* (1984 — ゴジラ, *Godzilla 1984*). Được thiết kế như một pháo đài di động bọc thép siêu hạng nhằm bảo vệ Tokyo trước thảm họa chiến tranh hạt nhân hoặc thiên tai quy mô lớn, Super X bất ngờ được điều động khẩn cấp làm tuyến phòng thủ tối hậu khi Godzilla thức tỉnh và tấn công thẳng vào trung tâm thủ đô. Với thiết kế khí động học hình mai rùa bo tròn độc đáo, hệ thống đẩy phản lực cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) cho phép lơ lửng linh hoạt giữa các hẻm nhà chọc trời, lớp giáp hợp kim titan siêu cứng và gốm chịu nhiệt có thể kháng cự trực tiếp hơi thở nguyên tử, Super X đã đi vào lịch sử như cỗ máy nhân tạo đầu tiên thực sự đánh gục và làm ngừng tim Godzilla trong một trận chiến tay đôi. Bằng cách bắn hàng loạt đầu đạn chứa chất hấp thụ neutron cadmium trực tiếp vào vòm họng đang mở của quái thú, Super X đã làm sập lò phản ứng sinh học của Godzilla, đẩy sinh vật vào trạng thái chết lâm sàng trước khi một hiện tượng thiên nhiên bất ngờ làm đảo ngược tình thế.

11.2 m150 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1984

Shockirus (Heisei)

Quái thú bọ biển đột biến Shockirus (ショッキラス, Shokkkirasu) là một thực thể quái vật ký sinh độc đáo, rùng rợn và mang đậm phong cách kinh dị cơ thể (body horror) trong tác phẩm tái khởi động kinh điển *The Return of Godzilla* (1984 — ゴジラ, *Godzilla 1984*). Không giống như những đại kaiju khổng lồ cao hàng chục mét thường thấy, Shockirus chỉ dài vỏn vẹn khoảng 1 mét và nặng 45 kg, đóng vai trò là "quái vật tiền trạm" gieo rắc nỗi kinh hoàng tâm lý ngột ngạt mở màn cho sự tái xuất của Vua của Quái Thú sau 30 năm vắng bóng. Vốn là một loài giáp xác chân đều biển sâu nhỏ bé (tương tự như bọ biển khổng lồ *Bathynomus doederleinii* hay rận biển *Ligia exotica*), Shockirus đã bám chặt vào lớp da gồ ghề của Godzilla dưới đáy đại dương như một loài ký sinh trùng. Bằng việc hút dịch cơ thể và hấp thụ lượng bức xạ nguyên tử đậm đặc rò rỉ từ các tế bào phóng xạ của Godzilla, sinh vật này đã trải qua một đợt siêu đột biến tế bào khiến kích thước phình to gấp hàng trăm lần bình thường. Khi Godzilla vô tình cọ xát vào con tàu đánh cá *Yahata Maru* số 5 gần đảo Daikokujima, Shockirus đã rơi xuống tàu, tàn sát toàn bộ thủy thủ đoàn bằng cách hút cạn kiệt dịch cơ thể nạn nhân thành những xác ướp khô đét rùng rợn.

0.45 m45 kg
Chi tiết