Chuyển đến nội dung chính
Wikikaiju Logo
WIKIKAIJUEncyclopedia
Cơ sở dữ liệu sinh vật khổng lồ

Danh Mục Kaiju

Tra cứu thông số, nguồn gốc và hồ sơ Kaiju qua các vũ trụ điện ảnh.

Tổng số: 161 Kaiju
Heisei Era1993

Garuda (Heisei 1993)

Garuda (Heisei)

Garuda kỷ nguyên Heisei (ガルーダ, Garūda) là phi thuyền chiến đấu siêu thanh bọc thép hạng nặng được chế tạo bởi cánh vũ trang G-Force thuộc Liên Hợp Quốc. Được thiết kế ban đầu bởi kỹ sư tài ba Kazuma Aoki như vũ khí chủ lực số một để tiêu diệt Godzilla, dự án Garuda sau đó bị đình chỉ khi UNGCC quyết định chuyển hướng sang dự án siêu robot hai chân UX-02-93 Mechagodzilla. Với chiều dài 85 mét, trọng lượng 480 tấn và vận tốc tối đa Mach 3, Garuda trang bị đôi pháo Maser công suất cực cao (High-Power Maser Cannons) cùng động cơ phản lực plasma siêu cơ động. Khi Mechagodzilla gặp hạn chế về độ cơ động và suýt bị hủy diệt trong trận Suzuka, Garuda đã được nâng cấp thành module kết nối trên không, ghép nối trực tiếp vào lưng Mechagodzilla để khai sinh pháo đài tối thượng Super Mechagodzilla.

480 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1993

Rodan (Heisei 1993)

Rodan (Heisei)

Rodan kỷ nguyên Heisei (ラドン, Radon), hay còn được biết đến với hình thái tiến hóa tối thượng **Fire Rodan (ファイヤーラドン)**, là hiện thân đầy xúc động của tình phụ tử và bản năng bảo vệ đồng loại trong toàn bộ biên niên sử Kaiju Toho. Thức tỉnh từ một quả trứng thằn lằn bay Pteranodon hóa thạch bị nhiễm xạ bởi chất thải hạt nhân trên đảo Adonoa hoang vu thuộc Biển Bering, Rodan đã ấp ủ và bảo bọc một quả trứng Godzillasaurus cùng tổ như đứa em ruột thịt của mình. Khi các nhà khoa học Nhật Bản mang quả trứng về Kyoto, Rodan đã xông pha nghìn dặm đại dương để tìm kiếm đứa con tinh thần. Sau khi hấp thụ bức xạ từ trận huyết chiến với Godzilla và giai điệu tâm linh cổ xưa, Rodan biến đổi thành **Fire Rodan** với bộ lông cánh đỏ rực như lửa và sở hữu Tia Nhiệt Uranium (Uranium Heat Ray) hủy diệt. Tại chiến trường Makuhari, sau khi bị Mechagodzilla đánh trọng thương, Fire Rodan đã thực hiện nghĩa cử hy sinh vĩ đại bậc nhất lịch sử điện ảnh: tự phân rã thân xác thành bụi phóng xạ thiêng liêng, truyền toàn bộ sinh mạng hồi sinh Godzilla và ban tặng cho Vua Quái Thú Tia Nhiệt Xoắn Ốc Đỏ (Red Spiral Heat Ray) để lật ngược thế cờ.

70 m16,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1993

Godzilla Junior (Heisei 1993–1995)

Godzilla Junior (Heisei)

Godzilla Junior (ゴジラジュニア, Gojira Junia) là một trong những nhân vật sở hữu vòng đời phát triển sinh học và chiều sâu cảm xúc trọn vẹn nhất trong lịch sử điện ảnh Toho. Trải dài qua ba phần phim liên tiếp (*Godzilla vs. Mechagodzilla II* 1993, *Godzilla vs. SpaceGodzilla* 1994, và *Godzilla vs. Destoroyah* 1995), chú khủng long tiền sử thuần chủng Godzillasaurus này đã trải qua bốn giai đoạn tiến hóa kỳ diệu: từ một ấu trùng **Baby Godzilla** bé nhỏ gắn bó ruột thịt với con người, phát triển thành **Little Godzilla** tinh nghịch trên đảo hoang Baas, lột xác thành thiếu niên **Godzilla Junior** dũng cảm đối đầu tử thần Destoroyah, và cuối cùng hấp thụ toàn bộ bức xạ nhiệt hạch từ cái chết của cha mình (Burning Godzilla) để tái sinh trở thành **Vua Quái Thú** thế hệ mới, gầm vang kiêu hãnh giữa màn sương mù Tokyo.

40 m15,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1994

SpaceGodzilla (Heisei 1994)

SpaceGodzilla (Heisei)

SpaceGodzilla kỷ nguyên Heisei (スペースゴジラ, SupēsuGojira) là một trong những đối thủ xảo quyệt, quyền năng và mang tính hủy diệt khủng khiếp nhất mà Godzilla từng đối đầu. Được sinh ra ngoài vũ trụ sâu thẳm khi các tế bào Godzilla (G-cells) bị cuốn vào lỗ đen, phơi nhiễm trước các vụ nổ siêu tân tinh (supernova) và đồng hóa với các dạng sống tinh thể ngoài hành tinh trước khi phun ra từ một lỗ trắng, quái thú này sở hữu trí thông minh siêu việt, lòng thù hận tột độ và khả năng thao túng trường trọng lực. Với chiều cao 120 mét, đôi trụ tinh thể khổng lồ nhô cao trên hai vai và chiếc sừng vương miện trên trán, SpaceGodzilla có thể phóng Tia Nhật Hoa (Corona Beam) uốn lượn theo ý muốn, tạo lá chắn phản xạ năng lượng Photon Shield và kiến tạo một pháo đài tinh thể (Crystal Fortress) xung quanh Tháp Fukuoka để hút cạn năng lượng địa nhiệt và vũ trụ.

120 m80,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1994

M.O.G.U.E.R.A. (Heisei 1994)

M.O.G.U.E.R.A. (Heisei)

M.O.G.U.E.R.A. kỷ nguyên Heisei (モゲラ, M.O.G.U.E.R.A. — viết tắt của *Mobile Operation Godzilla Universal Aero-type*), là kỳ tích công nghệ cơ giáp quân sự tiếp theo của lực lượng G-Force thuộc Liên Hợp Quốc sau sự sụp đổ của Mechagodzilla năm 1993. Được tái thiết kế hoàn toàn dựa trên cảm hứng từ cỗ máy đào đất huyền thoại Showa kết hợp với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ tương lai thế kỷ 23, M.O.G.U.E.R.A. sở hữu chiều cao 120 mét, nặng 160.000 tấn và có khả năng tác chiến đa môi trường từ lòng đất, khí quyển cho đến không gian liên sao (vận tốc Mach 44 ngoài vũ trụ). Điểm đột phá mang tính chiến lược của cỗ máy là cơ chế phân tách mô-đun chiến thuật: có thể phân tách thành cỗ xe tăng khoan đất bọc thép hạng nặng **Land Moguera** và tiêm kích siêu thanh vũ trụ **Star Falcon**, cho phép phi hành đoàn tung đòn gọng kìm triệt hạ nền móng tháp năng lượng của SpaceGodzilla tại Fukuoka.

120 m160,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1994

Fairy Mothra (Heisei 1994)

Fairy Mothra (Heisei)

Fairy Mothra kỷ nguyên Heisei (フェアリーモスラ, Fearī Mosura — Tiểu Bướm Thần / Fairy Mothra), là một thực thể tâm linh kỳ diệu và độc nhất vô nhị trong thần thoại quái thú Toho. Xuất hiện lần đầu trong *Godzilla vs. SpaceGodzilla* (1994), Fairy Mothra là phân thân tinh linh thu nhỏ được tạo ra bởi Bướm Thần Mothra khổng lồ khi đang trên hành trình bay vào không gian sâu thẳm để bảo vệ Trái Đất khỏi thiên thạch diệt vong. Với kích thước tí hon (chiều dài 18 cm, sải cánh 30 cm) có thể đậu vừa vặn trên lòng bàn tay con người, Fairy Mothra hoạt động như một chiếc cầu nối tâm linh siêu việt vượt qua hàng triệu năm ánh sáng. Chú bướm thần tí hon này đã bay về Trái Đất, xuất hiện trước nhà ngoại cảm Miki Saegusa trên bãi biển đảo Baas, phát ra luồng ánh sáng thần thánh chiếu hình ảnh ba chiều của hai tiểu tiên nữ Cosmos để cảnh báo nhân loại về sự xuất hiện của bạo chúa vũ trụ SpaceGodzilla.

0.002 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1995

Destoroyah (Heisei 1995)

Destoroyah (Heisei)

Destoroyah kỷ nguyên Heisei (デストロイア, Desutoroia) là hiện thân khủng khiếp nhất của cái chết, sự hủy diệt và tội lỗi khoa học của loài người trong toàn bộ biên niên sử Toho. Được sinh ra trực tiếp từ dư chấn hóa học của vũ khí **Oxygen Destroyer** (Vũ Khí Hủy Diệt Oxy) do Tiến sĩ Daisuke Serizawa kích nổ dưới đáy Vịnh Tokyo năm 1954 để tiêu diệt Godzilla nguyên bản, Destoroyah là tập hợp của hàng tỷ vi sinh vật giáp xác kỵ khí thời Tiền Cambri bị đột biến siêu tốc qua 40 năm. Trải qua chu kỳ tiến hóa kinh hoàng từ các dạng vi sinh, ấu trùng cua khổng lồ, dạng tổng hợp (Aggregate), dạng bay (Flying) cho đến Dạng Hoàn Hảo (Perfect Form) cao 120 mét với đôi cánh dơi quỷ sải rộng 210 mét, Destoroyah sở hữu vũ khí Tia Hủy Diệt Oxy (Oxygen Destroyer Ray) và thanh kiếm năng lượng Horn Katana chém đứt da thịt Burning Godzilla. Hắn đã sát hại dã man Godzilla Junior, châm ngòi cho cơn phẫn nộ hạt nhân cực hạn của Godzilla trong trận quyết chiến bi tráng bậc nhất lịch sử điện ảnh thế giới.

120 m80,000 metric_tons
Chi tiết
Heisei Era1995

Super X3 (Heisei 1995)

Super X3 (Heisei)

Super X3 kỷ nguyên Heisei (スーパーX3, Sūpā Ekkusu Surī) là thế hệ đỉnh cao và hoàn hảo nhất của dòng siêu chiến xa Super X huyền thoại do Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) phát triển. Khác biệt với hai phiên bản tiền nhiệm (Super X 1984 chuyên tác chiến đô thị và Super X2 1989 điều khiển từ xa), Super X3 là một pháo đài bay siêu thanh cánh cụp dạng thân nâng (lifting-body) bọc giáp titan xanh ô-liu chống nhiệt cực hạn, do Đại úy Sho Kuroki đích thân chỉ huy. Được thiết kế chuyên biệt để ứng phó với các thảm họa hạt nhân quy mô quốc gia, Super X3 trang bị hệ thống pháo Laser Siêu Lạnh Cadmium 1 triệu volt (Ultra-Cold Cryogenic Laser Cannons) và tên lửa đông lạnh Cadmium làm hạ nhiệt độ xuống âm 200 độ C. Super X3 đã lập nên hai kỳ tích vĩ đại: đóng băng thành công Burning Godzilla tại eo biển Bungo ngăn chặn thảm họa tan chảy toàn cầu, và cùng các đơn vị mặt đất xả bão đạn siêu lạnh bắn hạ Destoroyah khi hắn toan tẩu thoát trên bầu trời Tokyo.

220 metric_tons
Chi tiết
Millennium Era1999

Godzilla (Kỷ Millennium 1999–2000)

Godzilla (Millennium)

Godzilla kỷ nguyên Millennium (ミレニアムゴジラ, Mireniamu Gojira — thường được giới hâm mộ và các nhà làm phim Toho gọi bằng biệt danh MireGoji / GiraGoji) đánh dấu sự tái sinh bùng nổ của Vua Quái Thú trước thềm thiên niên kỷ mới trong hai tác phẩm điện ảnh *Godzilla 2000: Millennium* (1999) và *Godzilla vs. Megaguirus* (2000). Khác biệt hoàn toàn với hình tượng Heisei nặng nề và bi tráng trước đó, Godzilla 1999 được nhà điêu khắc đại tài Shinichi Wakasa và đạo diễn hiệu ứng đặc biệt Kenji Suzuki tái thiết kế toàn diện với diện mạo bò sát săn mồi hung tợn: dáng đứng hơi khom linh hoạt, hàm răng sắc nhọn như dao cạo, màu da xanh lục sẫm và đặc biệt là hệ thống gai lưng pha lê tím (purple crystalline dorsal spines) sắc nhọn khổng lồ bốc lửa. Không còn là một thảm họa hạt nhân chậm chạp, MireGoji sở hữu tốc độ phản xạ áp đảo, hơi thở nguyên tử màu cam đỏ (incandescent orange-red atomic breath) nhiệt lượng cực lớn và chuỗi tế bào siêu tái tạo thần tốc **Regenerator G1** — thứ vật chất di truyền khiến giống loài ngoài hành tinh Millennian thèm khát và dẫn đến sự biến dị kinh hoàng thành quái vật Orga.

55 m25,000 metric_tons
Chi tiết